Tìm giao tuyến của hai mặt phẳng là một dạng toán cơ bản nhưng quan trọng trong chương “Đường thẳng và mặt phẳng trong không gian” của chương trình Toán lớp 11. Để giải quyết dạng toán này, việc nắm vững phương pháp và luyện tập thường xuyên là chìa khóa để đạt kết quả tốt. Bài viết này sẽ cung cấp một cách tiếp cận chi tiết, dễ hiểu và kèm theo các ví dụ minh họa sinh động, giúp học sinh chinh phục dạng toán này một cách hiệu quả.
TÓM TẮT
- 1 I. Phương Pháp Tìm Giao Tuyến Của Hai Mặt Phẳng
- 2 II. Ví Dụ Minh Họa Chi Tiết
- 2.1 Ví dụ 1: Tìm giao tuyến của mặt phẳng (SAC) và (SBD) trong hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD (AB // CD).
- 2.2 Ví dụ 2: Tìm giao tuyến của mặt phẳng (SAD) và (SBC) trong hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD (AD // BC).
- 2.3 Ví dụ 3: Tìm giao tuyến của mặt phẳng (SAB) và (SCD) trong hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD (AB // CD).
- 3 III. Bài Tập Trắc Nghiệm Và Tự Luyện
I. Phương Pháp Tìm Giao Tuyến Của Hai Mặt Phẳng
Nguyên tắc cốt lõi để tìm giao tuyến của hai mặt phẳng là xác định được hai điểm chung thuộc cả hai mặt phẳng đó. Sau khi có hai điểm chung, đường thẳng đi qua hai điểm này chính là giao tuyến cần tìm.
Cụ thể, quy trình thực hiện như sau:
-
Xác định hai điểm chung:
- Điểm chung thứ nhất: Thường là các điểm có sẵn hoặc dễ dàng suy ra thuộc cả hai mặt phẳng. Ví dụ, nếu hai mặt phẳng cùng chứa một điểm A, thì A là một điểm chung. Nếu hai mặt phẳng đều chứa một đường thẳng d, thì mọi điểm trên đường thẳng d đều là điểm chung.
- Điểm chung thứ hai: Việc tìm điểm chung thứ hai có thể phức tạp hơn. Thông thường, ta cần tìm hai đường thẳng, mỗi đường thẳng thuộc về một trong hai mặt phẳng, và hai đường thẳng này cùng nằm trong một mặt phẳng thứ ba (mặt phẳng “phụ”) và không song song với nhau. Giao điểm của hai đường thẳng này chính là điểm chung thứ hai.
- Một trường hợp phổ biến là khi hai mặt phẳng chứa hai đường thẳng cắt nhau. Nếu đường thẳng thứ nhất ($d_1$) nằm trong mặt phẳng thứ nhất ($alpha$) và đường thẳng thứ hai ($d_2$) nằm trong mặt phẳng thứ hai ($beta$), và hai đường thẳng này cắt nhau tại điểm M, thì M là điểm chung thứ hai. Điều kiện quan trọng là $d_1$ và $d_2$ phải không song song.
-
Nối hai điểm chung: Sau khi đã xác định được hai điểm chung (ví dụ: điểm A và điểm B), đường thẳng đi qua hai điểm này (đường thẳng AB) chính là giao tuyến của hai mặt phẳng đã cho.
Lưu ý quan trọng: Giao tuyến là một đường thẳng. Do đó, nó phải là đường thẳng chung của cả hai mặt phẳng. Điều này có nghĩa là mọi điểm thuộc giao tuyến đều phải thuộc cả hai mặt phẳng.
Quy trình tìm giao tuyến của hai mặt phẳng
II. Ví Dụ Minh Họa Chi Tiết
Để hiểu rõ hơn về phương pháp trên, chúng ta sẽ cùng đi qua các ví dụ minh họa cụ thể.
Ví dụ 1: Tìm giao tuyến của mặt phẳng (SAC) và (SBD) trong hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD (AB // CD).
-
Bước 1: Tìm hai điểm chung.
- Ta thấy điểm S chung cho cả hai mặt phẳng (SAC) và (SBD).
- Xét trong mặt phẳng đáy (ABCD), hai đường thẳng AC và BD cắt nhau tại điểm O.
- AC thuộc mặt phẳng (SAC).
- BD thuộc mặt phẳng (SBD).
- AC và BD không song song (vì ABCD là hình thang có AB // CD, nhưng AC và BD là hai đường chéo).
- Vậy, O là điểm chung thứ hai.
-
Bước 2: Kết luận giao tuyến.
- Hai điểm chung là S và O.
- Giao tuyến của hai mặt phẳng (SAC) và (SBD) là đường thẳng SO.
Hình minh họa ví dụ 1
Ví dụ 2: Tìm giao tuyến của mặt phẳng (SAD) và (SBC) trong hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD (AD // BC).
-
Bước 1: Tìm hai điểm chung.
- Điểm S chung cho cả hai mặt phẳng (SAD) và (SBC).
- Xét trong mặt phẳng đáy (ABCD), hai đường thẳng AD và BC cắt nhau tại điểm I (vì ABCD là hình thang có AD // BC, nên AD và BC sẽ cắt nhau nếu kéo dài, hoặc trùng nhau nếu đó là hình bình hành, nhưng đề bài cho là hình thang nên ta xét trường hợp cắt nhau hoặc song song. Nếu AD // BC thì chúng song song, nhưng trong ví dụ này, ta giả định chúng cắt nhau tại I). Lưu ý: Nếu AD // BC, thì giao tuyến của (SAD) và (SBC) sẽ là đường thẳng qua S và song song với AD, BC. Tuy nhiên, đề bài thường cho các cạnh đối không song song để tìm giao điểm. Giả sử AD và BC cắt nhau tại I.
- AD thuộc mặt phẳng (SAD).
- BC thuộc mặt phẳng (SBC).
- AD và BC không song song.
- Vậy, I là điểm chung thứ hai.
-
Bước 2: Kết luận giao tuyến.
- Hai điểm chung là S và I.
- Giao tuyến của hai mặt phẳng (SAD) và (SBC) là đường thẳng SI.
Ví dụ 3: Tìm giao tuyến của mặt phẳng (SAB) và (SCD) trong hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang ABCD (AB // CD).
-
Bước 1: Tìm hai điểm chung.
- Điểm S chung cho cả hai mặt phẳng (SAB) và (SCD).
- Xét trong mặt phẳng đáy (ABCD), hai đường thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm I. (Lưu ý: nếu ABCD là hình thang có AB // CD, thì AB và CD sẽ song song, không cắt nhau. Tuy nhiên, trong các bài toán dạng này, thường xét trường hợp các cạnh đối không song song để có giao điểm. Nếu AB // CD, bài toán sẽ thay đổi). Giả sử AB và CD cắt nhau tại I.
- AB thuộc mặt phẳng (SAB).
- CD thuộc mặt phẳng (SCD).
- AB và CD không song song.
- Vậy, I là điểm chung thứ hai.
-
Bước 2: Kết luận giao tuyến.
- Hai điểm chung là S và I.
- Giao tuyến của hai mặt phẳng (SAB) và (SCD) là đường thẳng SI.
III. Bài Tập Trắc Nghiệm Và Tự Luyện
Việc luyện tập với nhiều dạng bài tập khác nhau sẽ giúp củng cố kiến thức và nâng cao kỹ năng giải toán. Dưới đây là một số bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luyện để bạn thực hành.
Bài tập trắc nghiệm
Câu 1: Cho tứ diện S.ABC. Lấy điểm E, F lần lượt trên đoạn SA, SB và điểm G trọng tâm tam giác ABC. Tìm giao tuyến của mp(EFG) và mp(SBC).
- Phân tích:
- Điểm chung thứ nhất: Ta cần tìm điểm chung giữa (EFG) và (SBC).
- Điểm chung thứ hai: Tìm hai đường thẳng lần lượt thuộc hai mặt phẳng và cắt nhau.
- Trong mặt phẳng (SAB), gọi H là giao điểm của EF và AB.
- Trong mặt phẳng (ABC), gọi HG cắt BC tại J.
- Khi đó, J là điểm chung thứ hai (vì J thuộc BC nên J thuộc (SBC), và J thuộc HG, HG thuộc (EFG) nên J thuộc (EFG)).
- Vậy giao tuyến là đường thẳng FJ. Tuy nhiên, các đáp án không có FJ. Ta xem lại.
- Thực ra, F đã thuộc (SBC). Ta cần tìm một điểm khác thuộc cả hai mặt phẳng.
- Ta có F ∈ (SBC). Cần tìm điểm thứ hai.
- Trong (SAB), gọi EF cắt AB tại H.
- Trong (ABC), gọi HG cắt BC tại J.
- Khi đó J ∈ BC ⊂ (SBC) và J ∈ HG ⊂ (EFG). Vậy J là điểm chung thứ hai. Giao tuyến là FJ.
- Xem lại đề bài và đáp án. Có thể có cách khác.
- Hoặc, ta xét giao điểm của EG với SB. Gọi T là giao điểm của EG và SB. T thuộc SB nên T thuộc (SBC). T thuộc EG nên T thuộc (EFG). Vậy T là điểm chung thứ hai. Giao tuyến là FT.
Đáp án đúng là D. Có thể đáp án có sai sót hoặc cách giải chi tiết hơn cần bổ sung.
Bài tập tự luyện
Bài 1: Cho hình chóp S.ABCD có đáy là hình thang, đáy lớn AB. Gọi O là giao điểm của AC và BD; I là giao điểm của AD và BC. Tìm mệnh đề sai? Xác định giao tuyến giữa 2 mặt phẳng:
a) (SAC) và (SBD).
b) (SAD) và (SBC)
- Gợi ý:
- a) Giao tuyến là SO (S và O là điểm chung).
- b) Giao tuyến là SI (S và I là điểm chung).
Bài 2: Cho tứ giác ABCD sao cho các cạnh đối không song song với nhau. Lấy một điểm S không thuộc mặt phẳng (ABCD). Xác định giao tuyến của mặt phẳng (SAC) và mặt phẳng (SBD).
- Gợi ý: Giao tuyến là SO, với O là giao điểm của AC và BD.
Bài 3: Cho tứ giác ABCD sao cho các cạnh đối không song song với nhau. Lấy một điểm S không thuộc mặt phẳng (ABCD). Xác định giao tuyến của mặt phẳng (SAB) và mặt phẳng (SCD).
- Gợi ý: Giao tuyến là SI, với I là giao điểm của AB và CD.
Bài 4: Cho tứ diện ABCD. Gọi G là trọng tâm tam giác BCD. Xác định giao tuyến của mặt phẳng (ACD) và (GAB).
- Gợi ý:
- Điểm chung thứ nhất là A.
- Gọi N là giao điểm của BG và CD. N là trung điểm CD.
- Xét mặt phẳng (ABG). Đường thẳng AN nằm trong mặt phẳng này.
- Xét mặt phẳng (ACD). Đường thẳng AN nằm trong mặt phẳng này.
- Vậy giao tuyến là AN.
Bài 5: Cho hình chóp S.ABC. Gọi K, M lần lượt là hai điểm trên cạnh SA và SC. Gọi N là trung điểm của cạnh BC. Tìm giao tuyến của các cặp mặt phẳng sau:
a) (SAN) và (ABM).
b) (SAN) và (BCK).
- Gợi ý:
- a) Điểm chung thứ nhất là A. Tìm điểm chung thứ hai bằng cách xét giao điểm của SN và BM (nếu có).
- b) Điểm chung thứ nhất là điểm nào? Cần tìm hai đường thẳng cắt nhau thuộc hai mặt phẳng.
Hy vọng với những phương pháp và ví dụ trên, các bạn học sinh có thể tự tin hơn khi giải các bài toán liên quan đến giao tuyến của hai mặt phẳng. Hãy luyện tập thêm để thành thạo dạng toán này!












