Mở Đầu
Sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết Việt Nam trong hai thập kỷ (1986-2006) đã minh chứng cho sức sống mãnh liệt mà M.Bakhtin từng tiên đoán. Tiểu thuyết không chỉ khẳng định vị thế là “nhân vật chính” trên sân khấu văn học hiện đại mà còn có khả năng thâm nhập, du nhập các thể loại khác, tạo nên cấu trúc nghệ thuật đa tầng. Một trong những thay đổi đáng kể nhất trong giai đoạn này là sự đa dạng và linh hoạt của các bút pháp nghệ thuật tự sự, mang đến những cách thức biểu đạt mới mẻ và sâu sắc về hiện thực đời sống.
Các Bút Pháp Nghệ Thuật Tiêu Biểu
1. Bút Pháp Tả Thực Mới
Khái niệm tả thực, với nguồn gốc từ thuật ngữ mimezic của Aristote và phát triển mạnh mẽ cùng chủ nghĩa hiện thực, đã trở thành nguyên tắc nghệ thuật quan trọng. Khác với quan niệm truyền thống xem văn học như “tấm gương phản ánh cuộc đời” hay “người thư ký trung thành của thời đại”, bút pháp tả thực mới trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 mang những đặc điểm riêng biệt. Tả thực không chỉ đơn thuần là sự thể hiện trung thành hiện thực mà còn là việc soi chiếu hiện thực từ nhiều góc nhìn, sử dụng cái nhìn khách quan, thậm chí là giễu nhại. Điều quan trọng là tác phẩm phải mang lại cho độc giả cả thông tin về sự thật lẫn thông tin thẩm mĩ phong phú, bởi “sự thật trong văn học tuy thống nhất với sự thật ngoài đời nhưng hai thứ đó không phải là một”.
Các tác phẩm như “Thời xa vắng”, “Chuyện làng Cuội” của Lê Lựu, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, “Vòng tròn bội bạc” của Chu Lai, hay “Bến không chồng” của Dương Hướng đã thể hiện rõ nét bút pháp tả thực mới này. Khuynh hướng “nhận thức lại” lịch sử cũng góp phần định hình bút pháp tả thực, khi các nhà văn nhìn nhận lại quá khứ với những bi kịch, sai lầm, và suy tư về số phận con người trong vòng xoáy biến cố lịch sử. Các tác phẩm viết về cải cách ruộng đất, tình cảnh nông thôn và người nông dân đã tái hiện chân thực những cảnh đời “dở khóc dở cười”, qua đó giúp độc giả từ giã quá khứ để hướng tới tương lai nhân bản hơn.
So với giai đoạn trước đổi mới, khi tiểu thuyết đôi khi còn nặng về ký sự báo chí, bút pháp tả thực sau 1986 đã được kết hợp nhuần nhuyễn với nhiều thủ pháp nghệ thuật khác, tạo nên những tác phẩm hấp dẫn và có giá trị.
2. Bút Pháp Phúng Dụ, Huyền Thoại
Sự xuất hiện của bút pháp huyền thoại trong tiểu thuyết thời đổi mới cho phép nhà văn nhìn sâu vào thế giới nội tâm và hiện thực phức tạp, đồng thời tạo ra sự “lạ hóa” thu hút độc giả. Các tác phẩm như “Thiên sứ” (Phạm Thị Hoài), “Thiên thần sám hối” (Tạ Duy Anh), “Cõi người rung chuông tận thế” (Hồ Anh Thái) đã sử dụng motif huyền thoại như một phương tiện nghệ thuật hiệu quả để truyền tải cách tiếp cận hiện thực một cách sinh động.
Bút pháp huyền thoại tạo ra những hình tượng mang tính ẩn dụ cao, mang nhiều lớp nghĩa tượng trưng. Các huyền thoại được cải biến, mang chứa những hàm lượng nghĩa mới, ví dụ như ánh trăng trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trở nên “ma mị, quái lạ”. Việc pha trộn các huyền thoại Đông – Tây, cũ – mới (Phạm Thị Hoài), hay việc xây dựng tình huống độc đáo như bé suy ngẫm khi còn trong bụng mẹ (Tạ Duy Anh) đã làm tăng hứng thú cho người đọc, giúp họ khám phá sự toàn vẹn và sinh động của cuộc sống qua lăng kính nghệ thuật. Bút pháp này, bằng cách “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thật”, giúp nhận thức cái hữu lý qua cái phi lý, sử dụng logic nghệ thuật và trí tưởng tượng để thấu hiểu logic cuộc sống.
3. Bút Pháp Trào Lộng, Giễu Nhại
Sự gia tăng của bút pháp trào lộng và giễu nhại trong tiểu thuyết đương đại xuất phát từ nhu cầu cân bằng sinh thái văn học, giải tỏa áp lực đời sống và quan trọng hơn là thể hiện tinh thần dân chủ hóa trong văn học. Đây không chỉ là mục đích “giải thiêng” mà còn là hình thức tiếp cận các giá trị đời sống một cách dân chủ, đa nguyên, phi quy phạm.
Các tác phẩm như “Thời xa vắng” (Lê Lựu), “Thiên sứ” (Phạm Thị Hoài), “Cõi người rung chuông tận thế” và “Mười lẻ một đêm” (Hồ Anh Thái), “Thượng đế thì cười” (Nguyễn Khải), “T. mất tích” (Thuận) là những ví dụ thành công. Nguyễn Khải, với “Thượng đế thì cười”, đã thể hiện một cái nhìn “tự trào” sắc sảo, sử dụng chất giọng giễu nhại để bao dung và nâng tầm nhận thức về một thời kỳ đơn giản, ấu trĩ, đầy ngộ nhận. Tác phẩm “Người sông Mê” của Châu Diên lại sử dụng thủ pháp nhại nhịp điệu sống quẩn quanh và các loại giọng điệu khác nhau. Hồ Anh Thái cũng là nhà văn ý thức sử dụng bút pháp giễu nhại, thể hiện qua phong cách trần thuật và giọng điệu.
4. Bút Pháp Tượng Trưng
Bút pháp tượng trưng được các nhà văn sử dụng nhằm gia tăng chất lượng, ý nghĩa và sức mê hoặc của tác phẩm. Màu sắc tượng trưng thường hiện diện qua những chi tiết khác lạ so với logic thông thường, như nhân vật Mai Trừng trong “Cõi người rung chuông tận thế” (Hồ Anh Thái) mang sức mạnh siêu nhiên. Hay hình ảnh Từ Vinh trong “Giàn thiêu” (Võ Thị Hảo) dù chết vẫn chỉ tay vào nhà Diên Thành Hầu.
Bút pháp tượng trưng còn thể hiện trong việc tổ chức cấu trúc tác phẩm và xây dựng hình tượng. Võ Thị Hảo với “Giàn thiêu” đã để nhân vật trải qua nhiều kiếp, miêu tả tiếng vọng oan hồn, xoáy sâu vào những chi tiết sử gia bỏ qua. Nguyễn Xuân Khánh xây dựng hình tượng Sử Văn Hoa như một nhân vật có tiếng nói riêng, không khuất phục quyền uy. Cả hai nhà văn đều lý giải lịch sử theo cách riêng, không nhất thiết trùng khít với chính sử.
Hiệu quả của bút pháp tượng trưng nằm ở khả năng tạo ra tính đa nghĩa, tái tạo các siêu mẫu và cấp cho chúng những bình diện nghĩa mới, khiến hình tượng trở nên “nhòe” nghĩa. Điều này đòi hỏi người đọc có năng lực giải mã để hiểu chiều sâu tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Bút pháp này cũng gia tăng sức ám chỉ, mở rộng biên độ các lớp nghĩa trong cấu trúc tác phẩm, như cách Nguyễn Huy Thiệp sử dụng trong các truyện ngắn của mình.
Kết Luận
Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật – tả thực mới, phúng dụ, huyền thoại, trào lộng, giễu nhại, và tượng trưng – đã giúp tiểu thuyết Việt Nam thời đổi mới vượt qua lối phản ánh hiện thực thông thường. Các bút pháp này cho phép tái hiện cuộc sống với tính chân thực, sinh động và toàn vẹn, mang đến cho độc giả những trải nghiệm văn bản phong phú và sâu sắc. Đây chính là yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn và giá trị lâu bền cho thể loại tiểu thuyết trong giai đoạn này.



